Tại sao ống thép không gỉ cần xử lý ủ dung dịch?

Thép không gỉ Austenit được làm mềm bằng phương pháp xử lý dung dịch rắn. Nói chung,ống thép không gỉVật liệu được nung nóng đến khoảng 950 đến 1150°C và giữ trong một thời gian để các cacbua và các nguyên tố hợp kim khác nhau được hòa tan hoàn toàn và đồng đều trong austenit, sau đó làm nguội nhanh. Cacbon và các nguyên tố hợp kim khác không có thời gian kết tủa, và thu được cấu trúc austenit tinh khiết, được gọi là xử lý dung dịch rắn.

Vai trò của phương pháp xử lý dung dịch rắn có ba khía cạnh.
1. Việc đảm bảo cấu trúc và thành phần của ống thép đồng nhất là đặc biệt quan trọng đối với nguyên liệu thô, bởi vì nhiệt độ cán và tốc độ làm nguội của mỗi đoạn dây thép cán nóng là khác nhau, dẫn đến cấu trúc tổ chức không đồng nhất. Ở nhiệt độ cao, hoạt động của nguyên tử tăng cường, pha σ hòa tan, và thành phần hóa học trở nên đồng nhất. Sau khi làm nguội nhanh, thu được cấu trúc đơn pha đồng nhất.

2. Loại bỏ hiện tượng cứng hóa vật liệu để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình gia công nguội tiếp tục.
Thông qua xử lý dung dịch rắn, cấu trúc mạng tinh thể bị biến dạng được phục hồi, các hạt bị kéo dài và vỡ được tái kết tinh, ứng suất bên trong được loại bỏ, độ bền kéo của ống thép giảm và tỷ lệ giãn dài tăng lên.

3. Khôi phục khả năng chống ăn mòn vốn có của thép không gỉ.
Do sự kết tủa của cacbua và các khuyết tật mạng tinh thể gây ra bởi quá trình gia công nguội, khả năng chống ăn mòn của thép không gỉ bị giảm. Sau khi xử lý dung dịch, khả năng chống ăn mòn của ống thép trở lại trạng thái ban đầu. Đối với ống thép không gỉ, ba yếu tố của quá trình xử lý dung dịch là nhiệt độ, thời gian giữ và tốc độ làm nguội. Nhiệt độ dung dịch rắn chủ yếu được xác định dựa trên thành phần hóa học. Nói chung, đối với các loại thép có nhiều loại nguyên tố hợp kim và hàm lượng cao, nhiệt độ dung dịch rắn cần được tăng lên tương ứng. Đặc biệt đối với thép có hàm lượng mangan, molypden, niken và silic cao, hiệu quả làm mềm chỉ có thể đạt được bằng cách tăng nhiệt độ dung dịch rắn và hòa tan hoàn toàn chúng. Tuy nhiên, khi nhiệt độ dung dịch rắn của thép ổn định, chẳng hạn như 1Cr18Ni9Ti, cao, các cacbua của các nguyên tố ổn định sẽ hòa tan hoàn toàn trong austenit và sẽ kết tủa dưới dạng Cr23C6 tại ranh giới hạt trong quá trình làm nguội tiếp theo, gây ra ăn mòn giữa các hạt. Để ngăn chặn sự phân hủy hoặc hình thành dung dịch rắn của các cacbua (TiC và Nbc) của các nguyên tố ổn định, người ta thường sử dụng nhiệt độ dung dịch rắn giới hạn dưới.

Như người ta thường nói, thép không gỉ là loại thép không dễ bị gỉ sét. Một số loại thép không gỉ vừa có tính chất không gỉ vừa có khả năng chống axit (chống ăn mòn). Tính chất không gỉ và khả năng chống ăn mòn của thép không gỉ là do sự hình thành lớp màng oxit giàu crom (màng thụ động) trên bề mặt của nó. Trong đó, tính không gỉ và khả năng chống ăn mòn là tương đối. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng khả năng chống ăn mòn của thép trong môi trường yếu như không khí hoặc nước, và môi trường oxy hóa như axit nitric sẽ tăng lên khi hàm lượng crom trong thép tăng lên, tỷ lệ thuận với sự gia tăng này. Khi hàm lượng crom đạt đến một tỷ lệ phần trăm nhất định, khả năng chống ăn mòn của thép sẽ thay đổi đột ngột, tức là từ dễ bị gỉ sét trở nên khó bị gỉ sét, từ không chống ăn mòn trở nên chống ăn mòn.


Thời gian đăng bài: 14/09/2023